Tháng 7 trên sông Sê San

(Đại lộ)- Đêm đổ xuống dòng sông Sê San thật nhanh, ánh hoàng hôn cuối chiều vụt tắt. Cả dòng nước như ánh lên màu bạc, màu của trăng làm bạc đi cả cánh rừng le, rừng săng lẻ.

(Đại lộ)- Đêm đổ xuống dòng sông Sê San thật nhanh, ánh hoàng hôn cuối chiều vụt tắt. Cả dòng nước như ánh lên màu bạc, màu của trăng làm bạc đi cả cánh rừng le, rừng săng lẻ.

Sóng…

Những con sóng chồm lên hai bên bờ đá trải dài, dòng nước đục ngầu đầu mùa trên sông Sê San không hẳn dữ dằn, cũng không hẳn hiền lành. Con sông cuộn mình lại nơi ghềnh đá, rồi bất ngờ lại duỗi thẳng ra mà theo gió, theo hoàng hôn đến thấm đẫm cuối ngày. Bên kia là nước bạn, bên kia là đất nước chùa tháp, đền đài đến nguy nga, huy hoàng của Ratanakiri, một tỉnh lị ngày xưa và hôm nay của đất nước Campuchia sau hồi sinh tươi đẹp. 

Anh lính biên phòng xốc lại quai súng trên vai, ghì cây súng vào sát vào người để cùng chiếc ghe máy vượt lên những con sóng lăn tăn giữa dòng nước xiết. Tôi đứng lặng người nheo mắt nhìn theo họ, một tổ “tam tam” trên con thuyền độc mộc giữa dòng sông mênh mông nước, mênh mông ghềnh đá lúc đang chập choạng. Trên kia, trên đầu dòng sông Sê San này là con sông Pa kô của A Sanh, bến sông một thời đưa những đoàn quân ra trận, một bến sông mà cái tên đã làm lên thành bất tử: “Anh lái đò… tên gọi A sanh…”. 

Chỉ tiếc một điều, khi tôi đến, A Sanh đã ra đi, đã về cõi vĩnh hằng, chỉ còn dòng sông, chỉ còn bến sông A Sanh, chỉ còn một bến trăng thanh bình và con đò ngày xưa dưới một chiều hoàng hôn lộng gió.

Trước khi rời thành phố Playcu, Đại tá Lê Thuần Huy, Chính ủy, Bộ đội Biên phòng Tỉnh, bắt tay tôi thật chặt, rồi quay ra bảo với cả đoàn văn nghệ sỹ là Hội viên của Hội Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam: “Các anh, các chị lên Đức Cơ, lên cửa khẩu Lệ Thanh, lên với các đồn Biên phòng các anh, các chị sẽ hiểu thêm về cuộc sống và việc làm thường nhật của những người chiến sỹ nơi biên cương này…”.

Cuộc sống nơi biên giới thì dẫu sao tôi cũng hiểu được một phần nào đó, bởi nơi gia đình tôi đang sống cũng là một vùng biên giới. Đấy là Công viên Địa chất toàn cầu, đấy là Cao Nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang và tôi đã được “mục sở thị” bao nhiêu đồn Biên phòng ở vùng đá quê mình. Vẫn những công việc thường ngày, vẫn xuống cơ sở, vẫn đi tuần tra, rồi vẫn làm những việc “không tên” mà người chiến sỹ vẫn làm, như dạy học, giúp dân trồng cấy hay thu hoạch khi mùa tới, trồng rừng, đào ao, nuôi lợn, nuôi gà… Rồi cũng không ít nơi xảy ra những sự kiện biên giới nữa chứ, từ việc hai bên đồng bào “nhận nhầm” của nhau một mảnh nương, đến buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, thăm thân các anh vẫn phải làm, vẫn phải bình tĩnh trước mọi công việc nơi biên giới bằng biện pháp hòa bình. 

Hôm trước, cái hôm lên thăm đồn Ia Nan, phiên hiệu 723 được nghe già làng Dơ Chăm Toen, hay còn gọi là Siu Bình dân tộc Ja Rai, ở làng Sơn, xã Ia Nan, cùng huyện Đức Cơ này kể cho chúng tôi nghe về bộ đội biên phòng. Trong dáng người vạn vỡ, ánh mắt rạng ngời niềm tin, ông vừa lựng đứa cháu nội trong lòng, vừa kể với cái giọng trầm trầm:

- Cái bộ Đội Biên phòng đồn Ia Nan nó tốt lắm, bao năm qua nó ở với đồng bào mình trên vùng biên giới này như người của bản làng mà. Cái gì nó cũng biết làm, việc gì nó cũng làm giỏi, từ trồng cây tiêu, tới chăm sóc cây điều, cây mì, cây khoai, nuôi con lợn, con bò, rồi nó còn giúp đồng bào nơi đây làm lại nhà, quy hoạch lại chuồng trại. Một tháng, cái bộ Đội Biên phòng đồn Ia Nan phải có mặt ở dưới Làng Sơn này 25- 26 ngày đấy. Nó nói tiếng đồng bào mình, dân tộc mình còn giỏi hơn mình đấy… Ông cũng bảo cái bộ đội biên phòng nó biết nhiều hơn cái bụng của mình, gặp nó thì cái gì nó cũng biết, nó nói cho mà nghe. Còn mình thì nghĩ được, nhưng nói thì không được như cái bộ đội biên phòng đâu?

Từ lời ông nói, tôi tìm gặp Thượng úy Lê Minh Hải, là Đội trưởng Đội “Vận động quần chúng” của Đồn Ia Nan. Anh nhìn tôi cười: “Chúng em đã làm được gì nhiều cho đồng bào đâu. Chỉ biết là người chiến sỹ nơi biên giới này làm gì được cho đồng bào ta thì cứ làm thôi. Bằng cách “cầm tay chỉ việc”, chúng em cùng đồng bào trồng cấy, làm cỏ bón phân, chăn nuôi, chăm sóc gia đình, làng bản. Đồng bào Ja Rai trên vùng biên giới này dẫu sao thì dân trí cũng còn nhiều hạn chế. Địa bàn biên giới, chủ yếu là rừng núi, các anh, các chị biết rồi còn quá nhiều khó khăn, đơn vị 723 bọn em phải quản lý 10 Km đường biên. Như vậy, cái bụng đồng bào sẽ là biên giới vững chắc nhất để bảo vệ chủ quyền dân tộc…”.

Nói rồi, anh đưa chúng tôi xuống từng gia đình, đến đâu anh cũng được đồng bào đón tiếp như người thân vậy. Một người dân chỉ vào Thượng úy Hải: “Nó mải xuống thôn bản, mải vui với công việc của dân trên vùng biên giới này mà mãi vừa rồi, bốn mươi tuổi, cái cán bộ biên phòng mới xây dựng gia đình. Vợ nó cùng quê nhưng hiện nay đang ở xã bên cạnh…”. 

Đúng như già làng Dơ Chăm Toen nói, các anh giao tiếp với đồng bào Ja rai nơi đây hoàn toàn bằng tiếng địa phương làm cho tôi chẳng biết thế nào mà lần. Thượng tá Nguyễn Hoan, Chính trị viên Đồn bảo: "Làm công tác dân vận ở vùng đồng bào Ja Rai này thì quan trọng nhất vẫn là biết tiếng, hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào. Mà việc đầu tiên muốn nói cho dân nghe thì phải biết nói, biết làm, biết nghĩ những cái đồng bào từng nghĩ trong bụng. Khi đồng bào đã làm theo, đã tin, đã yêu rồi thì lòng tin ấy khó có bao giờ thay đổi được. Trên địa bàn xã Ia Nan này có 10 thôn làng, thì những người lính biên phòng phải thuộc từng xóm, từng nhà, nhất là ba thôn làng giáp đường biên. Cả ba thôn có khoảng 640 hộ, trong đó có cả người Kinh lẫn người Ja Rai sinh sống. Xã Ia Nan cũng có 2 trường tiểu học, một trường trung học phổ thông và một trường Phổ thông Trung học chung cho 3 xã là Ia Nan, Ia Dom và Ia Bnon. Vậy là thôn làng nào cũng có những phân trường, nhưng xã nghèo, người dân nghèo thì việc vận động đưa con em tới trường luôn được đơn vị đặt lên hàng đầu và đó cũng là trách nhiệm của người chiến sỹ".


Đêm đổ xuống dòng sông Sê San thật nhanh, ánh hoàng hôn cuối chiều vụt tắt. Cả dòng nước như ánh lên màu bạc, màu của trăng làm bạc đi cả cánh rừng le, rừng săng lẻ. Dòng Sê San đang vặn mình ôm lấy núi rừng miền biên ải, để ánh trăng le lói thả vào đầu mũi thuyền hiện lên mờ mờ ngược dòng về phía Pa Cô như bức tranh thủy mặc. 

Anh Thành, Đồn trưởng Đồn 721 mời chúng tôi vào mâm, ăn cơm tối: “Hôm nay đãi các anh, các chị trong đoàn nhà văn đi thực tế bằng “cây nhà lá rừng” nhé…”. Bữa cơm dọn ra dưới bóng cây bằng lăng trắng to khoảng hai, ba vòng ôm. Chao ơi, thật hạnh phúc, đã lâu lắm rồi tôi mới được ngồi thế này, dưới những “cành trăng” loang lổ trên mặt đất, mé một bờ sông. Mấy cái chiếu nhựa được ghép lại, mấy tàu lá chuối trồng quanh “chốt gác” được chặt xuống làm mâm. Nào gà tự tay cán bộ, chiến sỹ chăn nuôi, nào cá các anh câu dưới dòng sông. Đúng là “cây nhà, lá rừng” thật. Sản vật dưới sông Sê San, sản vật rừng Lệ Thanh đều được cắm vào những cành cây rừng, nướng trên than củi. Thêm vào đấy là mấy tô chuối nấu, mấy tô canh “lá đắng”, đúng như anh đồn trưởng mời. Ngoại trừ canh, ngoại trừ chuối nấu hay cơm, tất cả được dùng tay gỡ thịt gà, gỡ cá nướng… Có lẽ cuộc đời làm nhà báo, nhà văn dẫn tôi đến nhiều vùng, nhưng bữa “ăn trăng Sê San” chỉ có một không hai trong đời. Chúng tôi vừa ăn, vừa ngắm “trăng non”, ngắm “rừng già” bên bờ con sông Sê San lao xao bóng nước, dưới bóng cây bằng lăng trắng loang lổ “cành trăng” mùa “sung” lá. Một bữa cơm biên phòng “có dễ mấy ai quên...". 

Ngồi ăn cơm ngay bên cạnh là Thiếu úy Trần Nhật Tường, anh để nguyên quần áo, giày dép ăn cơm, tôi quay sang hỏi anh: “Sao anh không thay quần áo ra hay mặc quần áo lót cho mát mà mặc quân phục mãi thế?”. Anh cười gượng gạo: “Lính mà anh, ở chốt này, có khi cả ngày hay cả tuần cũng chẳng có việc gì, nhưng đùng một cái là có chuyện, không thể không cơ động. Vì thế, em với mấy đồng chí  trong ca trực đều phải sẵn sàng, không để Tổ quốc bị bất ngờ anh ạ…”. 

À ra vậy đấy, những người lính biên thùy là thế, ngay trong lúc ăn, lúc ngủ họ cũng không quên nhiệm vụ mà Tổ quốc trao cho họ. Bữa cơm với những món ăn thật ngon được bàn tay người lính sắp ra trên một địa điểm “cũng rất ngon”, rất khoáng đạt và đầy thơ mộng. Một dòng sông đầy ăm ắp ánh trăng, dưới tán rừng già cũng loang lổ cành trăng… Vậy mà miệng tôi se se, đắng chát lại, có lẽ tôi đa cảm quá chăng? Nhưng cũng có lẽ tôi cảm nhận được những gì mà các anh thường phải chịu đựng hay gánh chịu nơi biên giới, ngay cả lúc tưởng như chỉ dành lại cho mình.

Chín giờ tối chúng tôi về nhà nghỉ của Công ty 15. Đêm ấy, nằm trong phòng khách sạn đầy đủ tiện nghi, bên cạnh là Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Huy Tịnh, người ở Thành phố Playku, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Tôi lại thấy bữa cơm khi tối bên dòng Sê San, tôi lại thấy chiếc thuyền độc mộc lao vút đi, ngược dòng vào “con sông hoàng hôn” lúc chiều hay “con sông trăng” lúc tối. Một con sông ngầu ngầu đỏ phù sa đầu mùa nước, mà nhớ, mà thương, mà lưu luyến. Tôi lại thấy Thiếu úy Trần Nhật Tường ôm chặt cây súng vào lòng, lủng lẳng trước ngực anh là chiếc ống nhòm trên “con thuyền trăng” nhòa vào “con sông trăng” nơi biên giới…

Sáng hôm sau, chưa đến bảy giờ, chúng tôi lên khu nền Đồn biên phòng Lệ Thanh, phiên hiệu 721 cũ, nay là nơi đặt bia tưởng niệm mười anh hùng liệt sỹ của đơn vị đã hy sinh năm 1978-1979 để bảo vệ biên giới phía Tây của Tổ quốc. Giá như không có cái thời khắc của bọn Khơ me đỏ, một thời khắc mà chúng muốn diệt chủng cả đất nước bạn Campuchia. Giá như không có cái ngày đau thương ấy thì đâu đến nỗi, các anh hy sinh khi đất nước ta vừa giải phóng. “Giá như”… bao nhiêu cái “giá như” mà chân tôi như muốn khuỵu xuống… 

Nén hương trong tay tôi run rẩy, mắt tôi nhòa đi trên hàng bia mang tên các anh. Có những người chỉ vừa tròn 19 tuổi và cũng chưa tròn một năm quân ngũ. 

Mỗi anh, mỗi miền quê, một miền ký ức mang tuổi thanh xuân thật đẹp về cây đa, giếng nước sân đình và có thể là những “bóng nón trắng” đâu đó chưa một lần thổ lộ. Có liệt sỹ quê ở Gia Lâm, Thanh Trì hay Đông Anh - Hà Nội, có liệt sỹ quê mãi Đông Triều - Quảng Ninh, rồi quê Kim Động - Hưng Yên, hay Quảng Xương, Quan Hóa-  Thanh Hóa… Các anh đã nằm lại nơi này, máu các anh đã đổ cho Tổ quốc bình yên, tên các anh đã hòa vào tên đất nước, hòa vào dòng sông Sê San, hòa vào ánh trăng trên vùng biên cương Tổ quốc. Các anh mãi sống với tuổi hai mươi khi “…gân đang săn và thớ thịt căng da…”. 

Chúng tôi lần tìm hàng bia, phần mộ các anh dưới chân đồi bên Cửa khẩu Lệ Thanh. Các anh, những anh hùng liệt sỹ vẫn nằm lại nơi đây, nơi Tổ quốc thiết tha đang “gọi tên mình”. Tôi mím chặt môi bước theo bóng nắng đầu ngày của Cửa khẩu Lệ Thanh mà vẫn như thấy dòng sông Se San chở đầy ánh trăng của đêm qua. Một con thuyền, một dòng sông, một bến Pa Cô hay bến A Sanh trên một vùng biên giới, một dòng trăng Sê San huyền thoại.

Nguyễn Quang

Ý kiến của bạn

   Mã xác nhận  

  •   
  •  

Tin khác

Thông tin doanh nghiệp