Ông Bùi Danh Liên: Tư duy đâu chịu nằm yên

(Đại Lộ) - Đang từ một giáo viên cấp 3 dạy Văn hiền lành như “giáo Thứ” chuyển về làm ngành đường sắt, rồi đột ngột xin nghỉ việc nhà nước, thành lập Nghiệp đoàn vận tải du lịch Thăng Long – giữa những thời điểm chông chênh, ông vẫn giữ cho mình sự thăng bằng nhờ vào tư duy vừa sắc sảo mà cũng đáo để khác người.

1. Bây giờ, khi nhắc đến tên ông Bùi Danh Liên, những người quan tâm đến các vấn đề thời sự thường nghĩ ngay đến một vị chuyên gia giao thông có nhiều phát ngôn sắc, lạ, thẳng thắn, quyết liệt có khi mất lòng ai đó. Những vấn đề nóng bỏng từ kiến trúc thượng tầng đến hạ tầng cơ sở, được ông tư duy, nhìn nhận rồi khi phát trên báo đài, lắm người gật gù, nhưng cũng có người chờn rợn. Từ đó có lần xảy ra những tranh luận mà ông bị kéo vào cuộc, khiến ông  cũng thấy mệt mỏi. Đến mức, có lần ông Liên tuyên bố sẽ không nói nữa. Song, khi câu chuyện qua đi, có những vấn đề gai góc, báo giới lại ghé thăm ông. Ông từ chối, rồi lại bị thuyết phục. Họ thú thật, độc giả rất thích cái cách ông xoay khối rubik chứa toàn vấn đề nóng qua nhiều hướng để thấy được những góc cạnh, bề mặt không phải ai cũng nhìn ra và nói rõ.

Xét ra, sự yêu mến đó mà dư luận dành cho ông đó không chỉ nhờ cái “duyên phát ngôn”, hay sự trải nghiệm, kiến thức đơn thuần, mà hẳn là, sức hút ấy đến từ một tư duy luôn vận động.

Ông Bùi Danh Liên (thứ ba từ trái qua)

2. Thực ra, không chỉ sau này, khi bước chân vào vận tải, làm một người kinh doanh thực thụ, đối mặt với nền kinh tế thị trường chát chúa “lệch là chết”, ông Bùi Danh Liên mới bộc lộ những tư duy sáng tạo. Hơn nửa thế kỷ trước, khi còn đứng trên bục giảng, nhiều người đã phục ông bởi tài dạy Văn và cả tư duy kinh tế.

Đó là câu chuyện từ đầu những năm 60, khi đó “cậu giáo” Bùi Danh Liên mới ngoài hai mươi tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Văn. Ra trường, ông được phân về giảng dạy tại trường cấp III Hàn Thuyên – ngôi trường khang trang nhất tỉnh Bắc Ninh thời bấy giờ.  Rồi, một thời gian ngắn sau, năm 1964, ông được chuyển về trường cấp III Thuận Thành –trường nghèo nhất tỉnh.

Từ  ngôi trường “lụa là” về mái trường quê, nhiều người chạnh lòng, vậy mà ông lại thấy …khoái. Đất và người nơi đây có cái chân chất, mộc mạc mà cũng nặng tình như Nam Đàn quê ông. Đám học sinh nhà nghèo nhưng lễ phép. Hơn hai mươi đồng nghiệp tuổi đời  tươi trẻ, “già” nhất mới 26, sống nhân ái, hòa đồng. Cái tình người chân thành như thế, là điều từ nhỏ ông vẫn trọng.

Duy chỉ có một nỗi buồn là nơi giảng dạy thì quá xập xệ, tồi tàn, cả cơ ngơi là dãy nhà lợp ngói và dãy nhà lợp tranh xiêu vẹo. Ngày nóng, nắng xuyên mái nhà; mùa mưa, cả thày trò đều lướt thướt.

Nhìn cảnh đó, ông day dứt. Thế rồi,  từ cái khó ló cái khôn. Cậu giáo Liên nhớ lại những năm tháng xoay trần trên Hà Nội, vừa học vừa làm, có lần tự thưởng cho mình một vé xem cải lương – thứ nghệ thuật mà ngày ấy nhắc đến ai cũng xuýt xoa hơn cả bây giờ người ta nói về phim “bom tấn”. Thế là, ông nảy ra ý tưởng: Nhà trường đứng ra tổ chức biểu diễn văn công, mời đoàn cải lương về vừa phục vụ bà con trong vùng, vừa  đáp ứng nhu cầu văn nghệ, mà lại có kinh phí từ tiền bán vé  để xây dựng trường.

Vào thời ấy, “kinh doanh nghệ thuật” là một ý tưởng táo bạo, vậy mà chẳng ngờ nó được toàn thể giáo viên trong trường nhất trí.  Lập tức, ông nhận  nhiệm vụ đạp xe lên Hà Nội, mời đoàn cải lương Chuông Vàng Thủ đô – đoàn nghệ thuật vang danh  “khét tiếng” đương thời về trường biểu diễn.

Đến buổi tối hôm diễn, đèn đuốc sáng rực đường. Hàng nghìn người dân Thuận Thành, có người đi bộ cả chục cây số để được chen chân, ngắm tận mắt những nghệ sĩ nổi tiếng.  Đến giờ khai mạc, ông thay mặt nhà trường đứng lên phát biểu . Ở dưới, tiếng vỗ tay của ngàn người rào rào vang lên đầy xúc động. Thành công đến hơn cả ông mong đợi. Toàn bộ số tiền thu về được nộp vào phòng quản lý huyện để xây dựng nhà trường. Tối đấy, mừng thắng lợi, “bầu sô” Liên và Ban tổ chức chương trình được thưởng một nồi cháo gà ăn đêm lại sức.

3. Sự sáng tạo trong tư duy theo ông ở nhiều lĩnh vực, từ nghề dạy học đến khi sang công tác ngành Đường sắt. Tuy nhiên, phải đến giai đoạn đất nước chuyển mình từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, những nhạy bén trong tư duy của ông mới gặp thời, mới có đất dụng võ. Đó là đầu thập niên 90, nền kinh tế cả nước bừng tỉnh. Không chần chừ, ông bàn với bà xã, cùng lúc xin ra khỏi cơ quan nhà nước, nơi ông đang công tác trong Tổng cục Đường sắt; còn bà, là kỹ sư Thông tin tín hiệu, để bước ra kinh doanh độc lập.

Đó là một quyết định táo bạo, khi mà phía sau ông bà là gánh nặng với đại gia đình, với những đứa con đang tuổi ăn, tuổi học. Nếu hai vợ chồng ông kinh doanh không thành, tình thế sẽ vô cùng gay go. Nhưng, ông bảo, nếu khi ấy, không dồn mình vào chỗ chết để tìm đường sống, như kiểu Hàn Tín bày trận quay lưng ra sông, thì  sao thoát khỏi tư duy e dè cố hữu do mấy chục năm làm công chức?

Vậy là, đang từ chỗ có công việc mà người khác nhìn vào mà ao ước, thấy  sao mà “ngon lành” thế, ông bà lao vào cuộc chiến “chống thất nghiệp”. Những tư duy kinh doanh ông định hình trước, giờ đem ra áp dụng. Nhà ông trở thành “bốt” điện thoại cố định, có đăng ký cả viễn thông quốc tế - thứ hàng khan hiếm nhưng rất có nhu cầu thời bấy giờ. Rồi kiêm cả thêm quầy hàng tạp hóa, dịch vụ may, sửa chữa quần áo….

Đều ra tiền, hơn cả thu nhập thời hai vợ chồng còn làm viên chức. Nhưng, đó chỉ là bước đệm cho quãng thời gian chống chếnh. Bởi, một thời gian sau, ông đã thực hiện điều bấy lâu tâm huyết, khi thành lập được nghiệp đoàn vận tải Thăng Long - tiền thân của Hợp tác xã Vận tảiThăng Long bây giờ. Với hơn 40 đầu xe, đây là một trong những nghiệp đoàn vận tải ra đời sớm nhất ở Thủ đô. Cũng từ đây, kiến thức bao năm qua ông chắt chiu, từ lý thuyết của những vị chuyên gia trong và ngoài nước đến kiến thức rất đời của các bác tài xế, phụ xe, đã phát huy tác dụng.

Những lý thuyết ấy, vào tư duy của ông, rồi được vận dụng rất độc đáo. Nghe chuyên gia Tây giảng về “thị trường ngách” – một lý thuyết còn khá xa lạ ở Việt Nam những năm 90, ông suy nghĩ và đem ra áp dụng cho nghiệp đoàn Thăng Long non trẻ. Trong khi các đơn vị vận tải khác giành nhau hành khách, thì ông chọn thị trường ngách chẳng giống ai là vận chuyển “khách âm”: tức là chở hài cốt. Công việc này khi ấy các nhà xe đều ngần ngại, dù cho thị trường rất dồi dào và làm được sẽ “ra tiền”. Để thuyết phục các xã viên, đứng mũi chịu sào, ông đã phải trực tiếp đến các nghĩa trang, tìm hiểu từng công đoạn từ bốc, rửa, rồi đến cách vận chuyển hài cốt và viết thành “bộ quy chuẩn” cho các bác tài cứ vậy làm theo. Chẳng biết, có phải do quy trình làm việc vừa khoa học mà  lại thành kính nên được “các cụ” phù trợ, các đơn vận đến nườm nượp, làm không xuể. Có những đêm, đoàn xe của Nghiệp đoàn hoạt động hết công suất với 40 - 50 chuyến,  mà chỉ là toàn chở “người âm”.

4. Đến bây giờ, khi đã trải biến qua thăng trầm của cuộc sống, ông bảo, nhìn lại thấy thật thoải mái, cũng chẳng mong gì hơn nữa. Trong gia đình, những người con của ông bà đã thành đạt, hiếu thuận với bố mẹ và có trách nhiệm với xã hội. Xã hội cũng cho ông những niềm vui sống. Biết đủ mới thấy niềm vui, ông nhủ mình và thường dạy con như thế. Nhiều chuyện xã hội, hay thế thái nhân tình nhẹ nhàng bỏ lại.

Nhưng, với ngành vận tải, thì sự nhiệt huyết khiến ông chưa dứt ra được. Vẫn thấy ông xuất hiện đều trên báo chí và vẫn là giọng nhiều khi gay gắt. Có lẽ, ông với giao thông vận tải còn nhiều duyên nợ; hay bởi ông là người tư duy đâu chịu nằm yên.

Nguyễn Vũ/VTOTO

Ý kiến của bạn

   Mã xác nhận  

  •   
  •  

Tin khác

Thông tin doanh nghiệp